
Học bổng Đèn đom đóm, Học
bổng Coca-Cola, chương trình ca nhạc thời trang ''Khám phá phong cách
Aquafina'', Cúp bóng đá Tiger Cup, chương trình hiến máu nhân đạo của nhân viên
Prudential... Những hoạt động được gọi là PR (Public Relations) này đã góp phần
không nhỏ giúp các thương hiệu Cô gái Hà Lan, Coca-Cola, Pepsi, Tiger,
Prudential... tranh thủ công chúng. Trong khi đó, đối với các DN Việt Nam,
khái niệm PR dường như vẫn còn xa lạ.
Cũng như những ngành mới (như marketing chẳng hạn), có rất nhiều định
nghĩa khác nhau về PR. Những định nghĩa đó tồn tại song song, và bổ sung cho
nhau. Rex Harlow, một trong những học giả hàng đầu về PR cho hay, có đến hơn
500 định nghĩa khác nhau về PR! Có lẽ cũng chính vì vậy, có rất nhiều cách giới
hạn vai trò và chức năng của PR trong đời sống hiện đại. Tuy nhiên, các định
nghĩa thường đi đến thống nhất với nhau về một vấn đề cốt lõi là:
''PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết
lập và duy trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức, cá nhân với những cộng
đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp tới sự thành bại của tổ
chức, cá nhân đó.''
“PR là một hoạt động nhắm hỗ trợ cho hoạt động Marketing làm
cho khách hàng biết đến công ty ngày một nhiều hơn"
Hiện nay người ta dịch từ Public Relations (PR) ra tiếng Việt theo rất nhiều
cách khác nhau: Quan hệ đối ngoại, Giao tế cộng đồng, Giao tế nhân sự...
Có hai từ khá sát với nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của PR, đó là quan hệ công
chúng và quan hệ cộng đồng. Từ quan hệ công chúng có vẻ sát nghĩa hơn,
tuy nhiên, lại không đúng với nhiều nghiệp vụ của PR như Government
Relationship (hay Government affair) Industry Relations... Trong các nghiệp vụ
này, không thể coi các nhóm cộng đồng đồng nghiệp hay các nhóm quan chức chính
quyền là những nhóm công chúng và bản chất của chúng cũng như vậy. Xét chung,
có lẽ từ quan hệ cộng đồng là thích hợp hơn cả và khắc phục được nhiều điểm yếu
của các cách dịch khác.
Công ty Tín Phát (st)




